Nghề làm nhang

Nghề làm nhang đã góp phần giải quyết việc làm cho lao động ở địa phương.. Đối với hộ gia đình sản xuất nhỏ lẻ thì nguồn vốn đầu tư không nhiều, sản phẩm làm ra được tiêu thụ tại địa phương, một số bán lại cho thương lái thu gom đi bán nơi khác.
Nghề làm nhang dùng nguyên liệu có sẵn trong nước, cách thức giản dị, vốn ít, nhân công gia đình từ trẻ tới già ai cũng có thể góp phần vào được.

Nguyên liệu: Nguyên liệu dùng trong nghề làm nhang đều có dư ở trong nước:
1. Bột vỏ cây Ô-đước mọc theo mé sông, bờ suối trong rừng vùng Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Biên Hoà, Bà Rịa. Ô-đước tên khoa học là cinnamomun argenteun thuộc về loại Lauracées, không lớn lắm, đường kính thân cây độ 25-30 phần, lá lớn như lá xoài voi, tượng và mặt trên láng bóng. Trong vỏ cây ô-đước có chất nhớt, dính như keo.
2. Cây tre đủ loại, cây để chẻ làm chân nhang.
3. Gỗ trầm, bạch đàn, cây quế có nhiều ở tỉnh miền Trung như Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam.
4. Phẩm vàng, phẩm đỏ xanh, đen để nhuộm chân nhang, giấy bao nhang.
Dụng cụ: Dụng cụ làm nhang rất giản dị. Làm nhang thường hay nhang ma, nhang đất chỉ cần cái bàn dài, mấy chậu sành và một cái bàn tròn bằng cây hay bằng tôn làm nhang thơm hay nhang thẻ thì dùng thêm một miếng ván cây nhỏ có núm để cầm và dùng để lăn nhang. Nếu làm nhang vòng thì có một cái khuôn bằng cây gỗ phẳng, trên có đục một rãnh hình cái nhang vòng xoáy trôn ốc, lớn nhỏ tùy theo cỡ nhang dự định làm.
Cách thức làm nhang: Có ba loại nhang là nhang đất, nhang thẻ và nhang vòng cho nên cách thức làm hơi khác nhau, nhưng trừ lối làm hương vòng còn đối với hai loại nhang nén thì có công việc chính là:
– Chẻ chân nhang
– Làm bột nhang
– Làm mình nhang
– Bó nhang và đóng thẻ.
1. Chẻ chân nhang
– Việc đầu là phải chẻ chân nhang. Chân nhang làm bằng tre, nứa, cần lựa thứ tre nào dầy như tre tầm vong chẳng hạn và cây tre phải không non quá và cũng không già quá.
– Cây tre mua về đem cưa ra từng đoạn ngắn bằng cây nhang đoạn dùng dao sắc mà chẻ ra thành thanh nhỏ, ( đem ngâm nước rồi phơi khô để nhang cháy đượm). Sau đó lại chẻ các thanh ấy ra chân nhang các chân nhang sau khi chẻ ra được vào lỗ có đục ở miếng tôn hay sắt tây và đóng vào bàn gỗ, như dùng để vuốt tre, mây cho nhẵn và tròn. Nhưng đối với nhang thường nghĩa là nhang ma, nhang đất thì không cần vuốt nhẵn, cứ để nguyên như lúc chẻ cũng được.
– Chân nhang được bó thành bó một muôn ( mười vạn hay 100 ngàn) để bán. Chân nhang chẻ xong được nhuộm đỏ phía dưới để cắm vào bát hương trước khi làm mình que nhang, hoặc về sau mới nhuộm.
2. Làm bột nhang
– Bột để se mình nén nhang lấy vỏ cây ô-đước. Người ta mua hay vào rừng vạt đẽo ở cây ô – đước đem về phơi khô, rồi dùng cối đá mà giã (đâm ) nát ra bột. Đem bột ấy mà rây cho nhỏ, mịn, bột nào còn to thì bỏ vào cối mà giã lần thứ hai. Bột mịn nhuyễn gọi là bột áo để bao phía ngoài nén nhang và làm bằng gỗ mục tán và rây thật nhỏ còn bột to gọi là bột hồ để se phía trong. Khi chế loại nhang thơm hay là nhang thẻ thì phải dùng gỗ trầm, gỗ bạch đàn, quế chi, chẻ nhỏ ra và tán nhỏ rồi rây kỹ.
3. Làm mình nhang
Lúc se mình nhang bằng bột ô-đước và bột khác thì lấy một cái bàn độ dài 2 thước, trên bàn để 3 đống bột:
– Đống thứ nhất là bột hồ ô-đước
– Đống giữa là nửa hồ nửa áo
– Đống thứ ba là bột hồ và hai phần bột áo
Lấy chân tre chia ra từng nắm (chét) nhỏ, dùng một cây cơ cặp vào để trừ phía dưới chân nhang, đoạn nhúng phần nhang sẽ bọc bột vào thùng nước lạnh cho ngập tới đầu cây cơ chân nhang.
Nhúng nước rồi, kéo tre ra mà vẩy cho thật ráo nước. Đemmvùi đầu tre đã nhúng nước lạnh vào đống hồ thứ nhất, nhúng vào bột xong bỏ ra ngay và rũ cho rơi bớt bột xuống bàn đồng thời phải cầm tách các cây nhang ra cho khỏi dính chùm vào nhau nhúng vào bột, kéo ra, rũ bột, làm như thế đ65 ba lần, khi nào không thấy nước ngấm ra ngoài cây nhang nữa là được. Đem để nắm nhang ấy lên giá gác cho khô rồi lấy nắm khác mà nhúng bột. Thường thương nhúng luôn một muôn cái chân, rồi lúc này lấy nắm đã nhúng nước, nhúng bột đầu mà nhúng lại vào nước lạnh, đoạn đem vùi vào đống bột thứ hai (có một nửa bột hồ, một nửa bột áo). Lần này ở cây tre nhang đã có bột ô-đước rồi, gặp nước sẽ có thể rời ra, nên phải cầm đầu cây nhang tách ra một chút, và nhúng xuống nước cũng nên lấy ra ngay đoạn đem vùi nhang vào đống bột thứ 3 (có 1 phần bột hồ và 2 phần bột áo). Lần này nên cầm xòe chân nhang ra như cái quạt, rồi để nằm xuống bàn mà rắc bột đống số 3 lên, xong nắm chụm tre lại mà rũ bột thừa đã bám vào nhang, nhúng xong đem gác lên giá, phên mà phơi cho khô. Cái chân tre nhúng được 3 lần nước, 3 lần bột thì lớn bằng chiếc đũa, nhưng bột thoa chưa được chặt, phảin lăn thì nó mới se mình lại. Khi làm nhang ma, nhang đất rẻ tiền thì phải lấy một cái thùng đựng đinh cũ, hoặc kiếm cái thùng bằng tôn, kẽm, sắt tây có đáy cao độ 40 phân. Đem xếp nhang, đầu xuống đáy thùng, để thùng nằm ngang xuống, rồi lấy tay mà lăn đi lăn lại để cho nhang mới làm xong được chắc mình lại. Lăn độ 15, 20 phút, đoạn đem để lên giàn mà phơi nắng cho khô. Nhang này được xếp thành ó 200 cây để bán.
Nhang ma, nhang đất không thơm lắm, vì không có bỏ hương gì trong nhang ấy cả. Nhang đất để không mà bán chứ không cần bỏ vào bao.   
Cách làm nhang thơm hay nhang thẻ
Nhang thơm là loại nhang trong có trộn gỗ thơm như trầm, bặch đàm, quế chi, thường thứ nhang này đựng trong bao hay thẻ, mổi bao có 60 cây, nên người ta gọi là nhang thẻ.
Nguyên liệu làm nhang thẻ cũng như làm nhang đất, nhưng cách làm cũng có khác. Một phần là bột hồ trộn với bột thơm, hòa với nước lạnh. Một phần nữa là bột thơm trộn với ít bột hồ, rây thật mịn rồi để khô dùng làm bột áo.
Bột thơm làm bằng gỗ cây trầm, bạch đàn, quế chi được tán nhỏ và rây kỹ.
Cách làm:
Sau khi trộn, nhồi bột rồi thì lấy tay mà se bột thành một cục nhỏ, tròn như đuôi chuột. Lấy một que nhang mà đặt cái đuôi chuột bằng bột ấy rồi lăn cho bột bọc kín lấy chân nhang. Muốn se cho đều và nhang được tròn thì lấy một miếng cây dẹp, ngang 10 phần, dọc 20 phân, dày 1 phân, phía lưng có núm cầm, cầm cái núm ấy mà lăn lên mình cây nhang, lăn đi lăn lại vài lần cho tròn và nhẵn. Khi nhang đã nhẵn rồi thì vùi vào đống bột áo khô se lại lần nữa để cho bột ăn vào cây nhang, như vậy cây nhang mới đẹp, mùi thơm ngát. Se xong đem phơi nắng cho khô xong đem nhúng chân vào bao, thường mỗi bao có 60 cây nhang. Nhang thơm làm tốn công nên giá bán phải cao hơn nhang thường.
Loại nhang rất thơm và bán đắt tiền là nhang Huế và nhang Ấn Độ. Nhang Ấn Độ thơm một mùi đặc biệt, rất mạnh, chỉ hợp với người Ấn quen dùng nhang này để cúng bái, nhu cầu của ta ít đòi hỏi loại nhang này. Nhang này chân nhỏ và mình cũng nhỏ.
Nhang là cách gọi khác của hương. Đến nay, vẫn chưa ai biết nhang ra đời từ bao giờ. Chỉ biết, về mặt tâm linh, người xưa nghĩ rằng dùng nhang là cách thức để tỏ lòng hiếu, để giao lưu giữa người cõi dương và người cõi âm, và nhất là để cầu khẩn thần linh tức khắc hiện ra giúp con người.
 
Thạch Sanh ở trong hốc cây đa, mình trần đóng khố nhưng vẫn giữ trọn chữ hiếu khi đốt mấy nén nhang ngày giỗ cha giỗ mẹ. Trương Ba đốt nhang, Đế Thích hiện ra giúp chàng thắng cuộc cờ với lão hàng thịt. Khắp nơi ở Việt Nam gọi là hương, nhưng từ cuối thời Trần, khi tướng Trần Khát Chân hy sinh, dân làng Hoàng Mai, vùng Kẻ Mơ và vài nơi khác ở Thăng Long (Hà Nội) kỵ chữ  hương – là tên em ruột của vị thành hoàng làng của Hoàng Mai – nên gọi cây hương là nhang. Nhang được sử dụng vào việc thờ cúng tổ tiên, thần phật, tổ nghề… Nhang, hoa, rượu là đầu vị quan trọng nhất của tục thờ cúng. Tuỳ theo nguyên liệu để làm nhang mà người ta chia ra nhang xạ và nhang trầm. Muốn làm nhang phải có tăm nhang. Tăm nhang được chẻ từ cây nứa khô dễ cháy nhất là nứa ngô và nứa bánh tẻ. Tăm nhang tròn và nhỏ bằng que tăm nhưng dài như chiếc đũa. Vì trầm rất hiếm nên người ta pha thêm thứ bột để làm nhang, nhờ nó mà nhang cháy đượm cả giờ đồng hồ, thậm chí cả ngày. Để bột dính chặt vào tăm nhang và không bị rã rời, người ta phải dùng keo làm từ vỏ cây dó hoặc cây rà rớt. Bột dó dính bột rà rớt pha với bột trầm, bột thảo mộc theo tỷ lệ 1/5 đến 1/12 , càng nhiều bột trầm thì nhang càng thơm.
 
Khi thắp nhang cúng lễ, người ta chỉ cắm một hoặc ba nén nhang nếu cúng trong nhà. Đại lễ ở chùa , đình, đền mới thắp bảy hay chín nén lúc mới vào cuộc lễ. Còn sau đó cũng chỉ thắp bổ sung một đến ba nén là vừa. Thắp nhiều hơn là không đúng. Nhiều nén nhang cho vào bao giấy gọi là thẻ nhang. Thẻ nhang được bao trong giấy điều, hồng có in hình phật Bà , chữ chúc phúc, bàn tay năm ngón giơ lên trời hoặc thương hiệu của nhà sản  xuất nhang. Còn túm rất nhiều nén nhang lại như bó đũa thì gọi là bó nhang.
 
Với người làm nhang, quan trọng là để nhang được khô ráo. Nhang làm xong phải được hong phơi kỹ. Các nén nhang, thẻ nhang , bó nhang đều phải đặt ở nơi khô ráo , tránh nước và không khí ẩm. Nếu làm vào mùa mưa dầm gió bấc thì phải  dùng lò sấy. Ngày trước, thường người thành thị  mới mua nhang trầm để đi lễ chùa, đình hoặc lễ ở nhà vì nhang trầm rất đắt. Người nông thôn mua nhang trám, vì rẻ hơn mà khói lại dày. Thường nhang trầm có màu vàng , nhang trám có màu đen. Nhang đen bao giờ cũng bó thành bó chứ không làm thành thẻ như nhang trầm. Tăm để làm nhang đen cũng dài hơn tăm nhang trầm.
 
Ngoài nén nhang, cây nhang, còn có nhang vòng. Nguyên liệu làm nhang vòng cũng là bột trầm, bột thảo mộc nhưng không có tăm nhang. Muốn làm nhang vòng phải dùng bàn ép chứ không dùng bàn lăn. Lối ép nhang vòng cũng tựa như làm bún sợi. Cối ép nhang làm bằng gỗ hoặc thép. Người  ta  cho  bột làm nhang vào cối rồi ép cho bột qua lỗ nhỏ cuốn thành vòng tròn đồng  tâm  như  cái lò so-đường  kính  hình  tròn  từ 10 cm đến 20 cm hoặc hơn nữa. Nhang vòng cháy đượm và lâu. Do không thể túc trực bên ban thờ, người ta dùng nhang vòng để tỏ lòng cung kính, thuỷ chung trước sau như một không lơ là. ở chùa, đình, đền nhang vòng được sử dụng thường xuyên.
 
Nghề làm nhang cũng có tổ nghề. Hồi nửa đầu thế kỷ 20, ở Hà Nội có các hiệu làm nhang danh tiếng như Quảng Thái, Hoàng Phát, Vạn Hoa… Nghe nói người sản xuất ở các hiệu này đều là dân làng Cao bên Hưng Yên. Cả làng Cao làm nghề sản xuất nhang, giỗ tổ nghề ngày 22 tháng 8 âm lịch. Ngoài việc ra Hà Nội, người làng Cao còn mở hiệu ở Huế và ở Sài Gòn…
 
Ngày Tết, đốt nhang thờ cúng trời đất, tổ tiên ta có cảm giác như được chứng giám lòng thành; tổ tiên về cùng vui Tết và giúp cháu con được may mắn, vạn sự như ý

 Nghề làm nhang đã góp phần giải quyết việc làm cho lao động ở địa phương.. Đối với hộ gia đình sản xuất nhỏ lẻ thì nguồn vốn đầu tư không nhiều, sản phẩm làm ra được tiêu thụ tại địa phương, một số bán lại cho thương lái thu gom đi bán nơi khác.
Nghề làm nhang dùng nguyên liệu có sẵn trong nước, cách thức giản dị, vốn ít, nhân công gia đình từ trẻ tới già ai cũng có thể góp phần vào được.

Nguyên liệu: Nguyên liệu dùng trong nghề làm nhang đều có dư ở trong nước:
1. Bột vỏ cây Ô-đước mọc theo mé sông, bờ suối trong rừng vùng Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Biên Hoà, Bà Rịa. Ô-đước tên khoa học là cinnamomun argenteun thuộc về loại Lauracées, không lớn lắm, đường kính thân cây độ 25-30 phần, lá lớn như lá xoài voi, tượng và mặt trên láng bóng. Trong vỏ cây ô-đước có chất nhớt, dính như keo.
2. Cây tre đủ loại, cây để chẻ làm chân nhang.
3. Gỗ trầm, bạch đàn, cây quế có nhiều ở tỉnh miền Trung như Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam.
4. Phẩm vàng, phẩm đỏ xanh, đen để nhuộm chân nhang, giấy bao nhang.
Dụng cụ: Dụng cụ làm nhang rất giản dị. Làm nhang thường hay nhang ma, nhang đất chỉ cần cái bàn dài, mấy chậu sành và một cái bàn tròn bằng cây hay bằng tôn làm nhang thơm hay nhang thẻ thì dùng thêm một miếng ván cây nhỏ có núm để cầm và dùng để lăn nhang. Nếu làm nhang vòng thì có một cái khuôn bằng cây gỗ phẳng, trên có đục một rãnh hình cái nhang vòng xoáy trôn ốc, lớn nhỏ tùy theo cỡ nhang dự định làm.
Cách thức làm nhang: Có ba loại nhang là nhang đất, nhang thẻ và nhang vòng cho nên cách thức làm hơi khác nhau, nhưng trừ lối làm hương vòng còn đối với hai loại nhang nén thì có công việc chính là:
– Chẻ chân nhang
– Làm bột nhang
– Làm mình nhang
– Bó nhang và đóng thẻ.
1. Chẻ chân nhang
– Việc đầu là phải chẻ chân nhang. Chân nhang làm bằng tre, nứa, cần lựa thứ tre nào dầy như tre tầm vong chẳng hạn và cây tre phải không non quá và cũng không già quá.
– Cây tre mua về đem cưa ra từng đoạn ngắn bằng cây nhang đoạn dùng dao sắc mà chẻ ra thành thanh nhỏ, ( đem ngâm nước rồi phơi khô để nhang cháy đượm). Sau đó lại chẻ các thanh ấy ra chân nhang các chân nhang sau khi chẻ ra được vào lỗ có đục ở miếng tôn hay sắt tây và đóng vào bàn gỗ, như dùng để vuốt tre, mây cho nhẵn và tròn. Nhưng đối với nhang thường nghĩa là nhang ma, nhang đất thì không cần vuốt nhẵn, cứ để nguyên như lúc chẻ cũng được.
– Chân nhang được bó thành bó một muôn ( mười vạn hay 100 ngàn) để bán. Chân nhang chẻ xong được nhuộm đỏ phía dưới để cắm vào bát hương trước khi làm mình que nhang, hoặc về sau mới nhuộm.
2. Làm bột nhang
– Bột để se mình nén nhang lấy vỏ cây ô-đước. Người ta mua hay vào rừng vạt đẽo ở cây ô – đước đem về phơi khô, rồi dùng cối đá mà giã (đâm ) nát ra bột. Đem bột ấy mà rây cho nhỏ, mịn, bột nào còn to thì bỏ vào cối mà giã lần thứ hai. Bột mịn nhuyễn gọi là bột áo để bao phía ngoài nén nhang và làm bằng gỗ mục tán và rây thật nhỏ còn bột to gọi là bột hồ để se phía trong. Khi chế loại nhang thơm hay là nhang thẻ thì phải dùng gỗ trầm, gỗ bạch đàn, quế chi, chẻ nhỏ ra và tán nhỏ rồi rây kỹ.
3. Làm mình nhang
Lúc se mình nhang bằng bột ô-đước và bột khác thì lấy một cái bàn độ dài 2 thước, trên bàn để 3 đống bột:
– Đống thứ nhất là bột hồ ô-đước
– Đống giữa là nửa hồ nửa áo
– Đống thứ ba là bột hồ và hai phần bột áo
Lấy chân tre chia ra từng nắm (chét) nhỏ, dùng một cây cơ cặp vào để trừ phía dưới chân nhang, đoạn nhúng phần nhang sẽ bọc bột vào thùng nước lạnh cho ngập tới đầu cây cơ chân nhang.
Nhúng nước rồi, kéo tre ra mà vẩy cho thật ráo nước. Đemmvùi đầu tre đã nhúng nước lạnh vào đống hồ thứ nhất, nhúng vào bột xong bỏ ra ngay và rũ cho rơi bớt bột xuống bàn đồng thời phải cầm tách các cây nhang ra cho khỏi dính chùm vào nhau nhúng vào bột, kéo ra, rũ bột, làm như thế đ65 ba lần, khi nào không thấy nước ngấm ra ngoài cây nhang nữa là được. Đem để nắm nhang ấy lên giá gác cho khô rồi lấy nắm khác mà nhúng bột. Thường thương nhúng luôn một muôn cái chân, rồi lúc này lấy nắm đã nhúng nước, nhúng bột đầu mà nhúng lại vào nước lạnh, đoạn đem vùi vào đống bột thứ hai (có một nửa bột hồ, một nửa bột áo). Lần này ở cây tre nhang đã có bột ô-đước rồi, gặp nước sẽ có thể rời ra, nên phải cầm đầu cây nhang tách ra một chút, và nhúng xuống nước cũng nên lấy ra ngay đoạn đem vùi nhang vào đống bột thứ 3 (có 1 phần bột hồ và 2 phần bột áo). Lần này nên cầm xòe chân nhang ra như cái quạt, rồi để nằm xuống bàn mà rắc bột đống số 3 lên, xong nắm chụm tre lại mà rũ bột thừa đã bám vào nhang, nhúng xong đem gác lên giá, phên mà phơi cho khô. Cái chân tre nhúng được 3 lần nước, 3 lần bột thì lớn bằng chiếc đũa, nhưng bột thoa chưa được chặt, phảin lăn thì nó mới se mình lại. Khi làm nhang ma, nhang đất rẻ tiền thì phải lấy một cái thùng đựng đinh cũ, hoặc kiếm cái thùng bằng tôn, kẽm, sắt tây có đáy cao độ 40 phân. Đem xếp nhang, đầu xuống đáy thùng, để thùng nằm ngang xuống, rồi lấy tay mà lăn đi lăn lại để cho nhang mới làm xong được chắc mình lại. Lăn độ 15, 20 phút, đoạn đem để lên giàn mà phơi nắng cho khô. Nhang này được xếp thành ó 200 cây để bán.
Nhang ma, nhang đất không thơm lắm, vì không có bỏ hương gì trong nhang ấy cả. Nhang đất để không mà bán chứ không cần bỏ vào bao.   
Cách làm nhang thơm hay nhang thẻ
Nhang thơm là loại nhang trong có trộn gỗ thơm như trầm, bặch đàm, quế chi, thường thứ nhang này đựng trong bao hay thẻ, mổi bao có 60 cây, nên người ta gọi là nhang thẻ.
Nguyên liệu làm nhang thẻ cũng như làm nhang đất, nhưng cách làm cũng có khác. Một phần là bột hồ trộn với bột thơm, hòa với nước lạnh. Một phần nữa là bột thơm trộn với ít bột hồ, rây thật mịn rồi để khô dùng làm bột áo.
Bột thơm làm bằng gỗ cây trầm, bạch đàn, quế chi được tán nhỏ và rây kỹ.
Cách làm:
Sau khi trộn, nhồi bột rồi thì lấy tay mà se bột thành một cục nhỏ, tròn như đuôi chuột. Lấy một que nhang mà đặt cái đuôi chuột bằng bột ấy rồi lăn cho bột bọc kín lấy chân nhang. Muốn se cho đều và nhang được tròn thì lấy một miếng cây dẹp, ngang 10 phần, dọc 20 phân, dày 1 phân, phía lưng có núm cầm, cầm cái núm ấy mà lăn lên mình cây nhang, lăn đi lăn lại vài lần cho tròn và nhẵn. Khi nhang đã nhẵn rồi thì vùi vào đống bột áo khô se lại lần nữa để cho bột ăn vào cây nhang, như vậy cây nhang mới đẹp, mùi thơm ngát. Se xong đem phơi nắng cho khô xong đem nhúng chân vào bao, thường mỗi bao có 60 cây nhang. Nhang thơm làm tốn công nên giá bán phải cao hơn nhang thường.
Loại nhang rất thơm và bán đắt tiền là nhang Huế và nhang Ấn Độ. Nhang Ấn Độ thơm một mùi đặc biệt, rất mạnh, chỉ hợp với người Ấn quen dùng nhang này để cúng bái, nhu cầu của ta ít đòi hỏi loại nhang này. Nhang này chân nhỏ và mình cũng nhỏ.
Nhang là cách gọi khác của hương. Đến nay, vẫn chưa ai biết nhang ra đời từ bao giờ. Chỉ biết, về mặt tâm linh, người xưa nghĩ rằng dùng nhang là cách thức để tỏ lòng hiếu, để giao lưu giữa người cõi dương và người cõi âm, và nhất là để cầu khẩn thần linh tức khắc hiện ra giúp con người.
 
Thạch Sanh ở trong hốc cây đa, mình trần đóng khố nhưng vẫn giữ trọn chữ hiếu khi đốt mấy nén nhang ngày giỗ cha giỗ mẹ. Trương Ba đốt nhang, Đế Thích hiện ra giúp chàng thắng cuộc cờ với lão hàng thịt. Khắp nơi ở Việt Nam gọi là hương, nhưng từ cuối thời Trần, khi tướng Trần Khát Chân hy sinh, dân làng Hoàng Mai, vùng Kẻ Mơ và vài nơi khác ở Thăng Long (Hà Nội) kỵ chữ  hương – là tên em ruột của vị thành hoàng làng của Hoàng Mai – nên gọi cây hương là nhang. Nhang được sử dụng vào việc thờ cúng tổ tiên, thần phật, tổ nghề… Nhang, hoa, rượu là đầu vị quan trọng nhất của tục thờ cúng. Tuỳ theo nguyên liệu để làm nhang mà người ta chia ra nhang xạ và nhang trầm. Muốn làm nhang phải có tăm nhang. Tăm nhang được chẻ từ cây nứa khô dễ cháy nhất là nứa ngô và nứa bánh tẻ. Tăm nhang tròn và nhỏ bằng que tăm nhưng dài như chiếc đũa. Vì trầm rất hiếm nên người ta pha thêm thứ bột để làm nhang, nhờ nó mà nhang cháy đượm cả giờ đồng hồ, thậm chí cả ngày. Để bột dính chặt vào tăm nhang và không bị rã rời, người ta phải dùng keo làm từ vỏ cây dó hoặc cây rà rớt. Bột dó dính bột rà rớt pha với bột trầm, bột thảo mộc theo tỷ lệ 1/5 đến 1/12 , càng nhiều bột trầm thì nhang càng thơm.
 
Khi thắp nhang cúng lễ, người ta chỉ cắm một hoặc ba nén nhang nếu cúng trong nhà. Đại lễ ở chùa , đình, đền mới thắp bảy hay chín nén lúc mới vào cuộc lễ. Còn sau đó cũng chỉ thắp bổ sung một đến ba nén là vừa. Thắp nhiều hơn là không đúng. Nhiều nén nhang cho vào bao giấy gọi là thẻ nhang. Thẻ nhang được bao trong giấy điều, hồng có in hình phật Bà , chữ chúc phúc, bàn tay năm ngón giơ lên trời hoặc thương hiệu của nhà sản  xuất nhang. Còn túm rất nhiều nén nhang lại như bó đũa thì gọi là bó nhang.
 
Với người làm nhang, quan trọng là để nhang được khô ráo. Nhang làm xong phải được hong phơi kỹ. Các nén nhang, thẻ nhang , bó nhang đều phải đặt ở nơi khô ráo , tránh nước và không khí ẩm. Nếu làm vào mùa mưa dầm gió bấc thì phải  dùng lò sấy. Ngày trước, thường người thành thị  mới mua nhang trầm để đi lễ chùa, đình hoặc lễ ở nhà vì nhang trầm rất đắt. Người nông thôn mua nhang trám, vì rẻ hơn mà khói lại dày. Thường nhang trầm có màu vàng , nhang trám có màu đen. Nhang đen bao giờ cũng bó thành bó chứ không làm thành thẻ như nhang trầm. Tăm để làm nhang đen cũng dài hơn tăm nhang trầm.
 
Ngoài nén nhang, cây nhang, còn có nhang vòng. Nguyên liệu làm nhang vòng cũng là bột trầm, bột thảo mộc nhưng không có tăm nhang. Muốn làm nhang vòng phải dùng bàn ép chứ không dùng bàn lăn. Lối ép nhang vòng cũng tựa như làm bún sợi. Cối ép nhang làm bằng gỗ hoặc thép. Người  ta  cho  bột làm nhang vào cối rồi ép cho bột qua lỗ nhỏ cuốn thành vòng tròn đồng  tâm  như  cái lò so-đường  kính  hình  tròn  từ 10 cm đến 20 cm hoặc hơn nữa. Nhang vòng cháy đượm và lâu. Do không thể túc trực bên ban thờ, người ta dùng nhang vòng để tỏ lòng cung kính, thuỷ chung trước sau như một không lơ là. ở chùa, đình, đền nhang vòng được sử dụng thường xuyên.
 
Nghề làm nhang cũng có tổ nghề. Hồi nửa đầu thế kỷ 20, ở Hà Nội có các hiệu làm nhang danh tiếng như Quảng Thái, Hoàng Phát, Vạn Hoa… Nghe nói người sản xuất ở các hiệu này đều là dân làng Cao bên Hưng Yên. Cả làng Cao làm nghề sản xuất nhang, giỗ tổ nghề ngày 22 tháng 8 âm lịch. Ngoài việc ra Hà Nội, người làng Cao còn mở hiệu ở Huế và ở Sài Gòn…
 
Ngày Tết, đốt nhang thờ cúng trời đất, tổ tiên ta có cảm giác như được chứng giám lòng thành; tổ tiên về cùng vui Tết và giúp cháu con được may mắn, vạn sự như ý

Nguồn: nhangminhthanh

Nội dung cùng danh mục